Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

20 thành phố ô nhiễm nặng nề nhất thế giới

20 thành phố ô nhiễm nặng nề nhất thế giới trong đó chiếm đa số là Ấn Độ một quốc gia phát triển công nghiệp không đi đôi bảo vệ môi trường gây ra thảm họa của bao cao giam sat moi truong dinh ky

  • Biến đổi khí hậu ngăn Thành Cát Tư Hãn thôn chiếm Nam Tống

Sự thật đã được chứng minh bởi một báo cáo của Tổ chức y tế WHO vào hồi năm ngoái, Ấn Độ mới đang là quốc gia có số lượng thành phố ô nhiễm hàng đầu trên thế giới, trong đó ô nhiễm nhất là thủ đô New Delhi.




Theo báo cáo chỉ ra, Ấn Độ đang có 13 trong số 20 thành phố ô nhiễm nhất trên thế giới. Con số này phần nào cũng phản ánh nên mức độ sức khỏe và tình trạng môi trường sống xuống cấp tại quốc gia có số dân đông thứ hai trên thế giới và là nền kinh tế lớn thứ 3 Châu Á.

Báo cáo trên cũng đồng thời xếp hạng 1.600 thành phố ở 91 quốc gia về chỉ tiêu chất lượng không khí có nồng độ bụi an toàn từ 10 PM tới 2.5 PM. Tức là nếu như nồng độ các hạt bụi và chất độc hại trong không khí có đường kính nhỏ hơn 2,5 -10 micron tăng lên cao sẽ dẫn tới khả năng gây bệnh phổi cho con người ngày càng lớn.

Tại thủ đô New Delhi, nồng độ bụi trung hình hàng năm trong không khí đo được là 153 ug/m3 (microgram trên mỗi m3 khí), con số này gấp 6 lần so với mức tối đa khuyến nghị của WHO. Tại nhiều thời điểm khác nhau trong năm con số này thậm chí còn cao hơn rất nhiều, nhất là vào mùa nắng nóng và hoạt động công nghiệp diễn ra mạnh mẽ.

Biến đổi khí hậu ngăn Thành Cát Tư Hãn thôn chiếm Nam Tống

Theo dự án báo về xử lý nước thải sinh hoạt cho thấy Biến đổi khí hậu ngăn Thành Cát Tư Hãn thôn chiếm Nam Tống là một trong những sự kiện nổi bật của lịch sử trung quốc bấy giờ
  • Câu chuyện về người phụ nữ với ba đời chồng mắc bệnh bụi phổi
Theo SCMP, khu vực miền trung, miền đông và miền nam Trung Quốc nằm trong số những nơi nóng nhất trong thế kỷ 13 ở châu Á. Khí hậu ấm lên bất thường khiến năng suất lúa tăng lên, lương thực dư thừa đủ để nuôi quân và đặt nền tảng vững chắc cho kinh tế và khoa học kỹ thuật địa phương phát triển.

Do đó, đây là bằng chứng cho thấy biến đối khí hậu đóng vai trò như một Vạn Lý Trường Thành ở nam trung bộ, ngăn quân nhà Mông đánh chiếm. Nhà Nam Tống được hưởng lợi nhiều nhất từ biến đổi khí hậu, trong khi triều đại nhà Nguyên ngày một yếu đi vì kinh tế kiệt quệ và nạn tham nhũng.

Nhóm nghiên cứu quốc tế do Shi Feng, giáo sư Viện Địa chất và Địa vật lý, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, dẫn đầu, cùng với các đồng nghiệp châu Âu, Nhật Bản, Nepal và Pakistan đã phân tích hàng trăm dữ liệu khắp thế giới, so sánh biến đổi nhiệt độ mùa hè ở châu Á trong thiên niên kỷ trước.

"Nhiệt độ gia tăng tại miền trung, đông và nam Trung Quốc (vào thế kỷ 13), cao hơn đáng kể so với những vùng khác, có thể so sánh với thế kỷ 20", trích báo cáo đăng hôm 5/11 trên tạp chí Biến đổi Khí hậu của nhóm tác giả.

Kinh tế miền trung, đông và nam bộ của Trung Quốc thời kỳ đó rất phát triển, chiếm tới 60% sản lượng GDP toàn cầu. Thời kỳ đó cũng đánh dấu nhiều phát minh quan trọng ra đời, trong đó có thuốc súng và la bàn.

Đế quốc Mông Cổ thành lập năm 1206, tồn tại suốt thế kỷ 13. Thành Cát Tư Hãn (1162-1227) kéo quân chinh phạt nhiều đất nước trên thế giới, tới tận phía tây xa xôi, trong đó có Ba Lan, năm 1259. Tuy nhiên, việc mở rộng về phía nam chậm hơn nhiều. Mặc dù nhiều lần kéo quân đánh chiếm phía nam, nhưng phải mất tới 4 thập kỷ, con cháu của Thành Cát Tư Hãn mới chinh phục được Nam Tống, thống nhất Trung Quốc năm 1279.

Dong Guanghui, giáo sư ngành lịch sử địa chất học ở đại học Lan Châu, người không tham gia nghiên cứu, cho biết xã hội cổ nhạy cảm hơn nhiều đối với biến đổi khí hậu, vì nền kinh tế lúc đó chủ yếu dựa vào nông nghiệp và hoạt động giao thương liên quan tới nông nghiệp. Tuy nhiên, giáo sư Dong cho rằng, không nên phóng đại sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

"Có rất nhiều vùng ấm lên trong lịch sử, tuy nhiên, chỉ có duy nhất một Thành Cát Tư Hãn", Dong nói. "Lịch sử đầy tính ngẫu nhiên. Biến đổi khí hậu không quyết định mọi điều".

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

Câu chuyện về người phụ nữ với ba đời chồng mắc bệnh bụi phổi

Câu chuyện về người phụ nữ với ba đời chồng mắc bệnh bụi phổi là cảm động nhất về cuộc sống con người khi phải sống với trình trạng ô nhiễm môi trường không khí như cách phải xử lý nước thải sinh hoạt cho thật tốt để con người không mắc bệnh ung thư quá nhiều
  • Biến đổi khí hậu ở tây nguyên và các giải pháp thích ứng
Năm 1991, cô gái Guo 20 tuổi kết hôn với Li Guangshan, cùng nhau sống những ngày tháng yên bình và hạnh phúc trong căn nhà nhỏ với hai đứa con. Mong ước một cuộc sống sung túc hơn, Li quyết định rời làng và bắt đầu làm việc tại một mỏ vàng năm 1992.

Ba năm sau đó, cuộc sống của gia đình đã cải thiện hơn nhờ khoản thu nhập 2.000 nhân dân tệ (315 USD) mỗi tháng. Nhiều người dân trong làng đi theo Li và lần đầu tiên cả làng cùng nhau thoát khỏi nạn đói.

Tuy nhiên, vào năm 1995, Li được chẩn đoán bệnh bụi phổi. Ông bắt đầu thấy khó thở và yếu dần đến mức không thể làm việc. Để chữa bệnh, gia đình đã dùng gần như toàn bộ số tiền tiết kiệm.

Tháng 5/1998, Li Guangshan qua đời. Guo cho biết chồng bà là người đầu tiên trong làng làm việc ở mỏ vàng và cũng là người đầu tiên chết vì căn bệnh này.

"Tôi sống với người chồng đầu tiên 7 năm, nhưng ông ấy mắc bệnh một nửa quãng thời gian đó", Guo nói.

Hai năm sau, bà kết hôn với Li Guangxiu, anh trai của người chồng đã qua đời. Guo thừa nhận rằng cuộc hôn nhân này hoàn toàn vì con cái và tin rằng người bác sẽ không đối xử tệ cháu mình.

Không lâu sau, người chồng thứ hai của bà Guo cũng được chuẩn đoán bệnh bụi phổi. Trong 10 năm sau đó, căn bệnh đã ngốn hết toàn bộ tài sản của gia đình, buộc Guo phải vay ngân hàng 80.000 nhân dân tệ (12.608 USD). Bất hạnh liên tiếp ập đến khi cậu con trai 12 tuổi bị chết đuối. Tháng 12/2001, ông Li Quangxiu treo cổ tự tử.

Cái chết của hai người chồng đã phá hủy cuộc sống và dập tắt hy vọng mong manh của người phụ nữ này. Ý nghĩ duy nhất của góa phụ Gio khi đó là nuôi dưỡng đứa con gái trưởng thành, nhưng gia đình đã thuyết phục Guo đi thêm bước nữa khi tuổi già đến gần.


Mùa xuân năm ngoái, Guo kết hôn với người chồng thứ ba Yang Xiaoyi , một người đàn ông đã góa vợ. Nhưng chỉ một tháng sau, Yang được bác sĩ thông báo mắc bệnh bụi phổi. Vì căn bệnh này, ngoài ngồi ghế để trông nhà, ông Yang không thể làm gì khác. Gánh nặng cuộc sống hàng ngày của cả gia đình đè lên vai Guo.

Theo China.org, câu chuyện của Guo là hình ảnh thu nhỏ của làng Mazhuanghe ở tỉnh Thiểm Tây. Năm 2011, cả làng có 13 trường hợp mắc bệnh bụi phổi và chỉ hai người còn sống. Vùng Daping trong làng có 37 hộ gia đình thì có đến 22 nam giới tuổi từ 30-60 bị bệnh này và chỉ có thể chờ chết.

"Chúng tôi có một quan tài sẵn ở trong nhà. Nó dành cho bố hoặc chồng tôi. Người qua đời trước sẽ được chôn cất bằng quan tài đó", Guo nói.

Bệnh nhân mắc bệnh bụi phổi thường do hít bụi từ các mỏ khai thác. Mỏ khai thác với cơ chế quản lý yếu kém của Trung Quốc nổi tiếng là rất nguy hiểm, mỗi năm có đến hàng trăm trường hợp tử vong do nổ, rò rỉ khí hoặc ngập nước.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Biến đổi khí hậu ở tây nguyên và các giải pháp thích ứng

Biến đổi khí hậu ở tây nguyên và các giải pháp thích ứng các hội liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật daklak - áp dụng những đề tài xử lý nước thải đạt chuẩn tốt nhất do công ty môi trường Đoàn Gia Phát thực hiện. Hotline : 0917080011
  • Khả năng xử lý dư lượng kháng sinh trong bùn của cây đước

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề của toàn cầu, là thách thức nghiêm trọng đối với toàn nhân loại hiện nay. Do vậy, việc xã hội loài người thích ứng với biến đổi khí hậu phải được đặt trong mối quan hệ của toàn nhân loại. Tuy nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ là thách thức mà còn tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng phát triển bền vững, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp. Để phát triển kinh tế bền vững phải tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ ảnh hưởng của BĐKH, trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, tránh thiên tai là nhiệm vụ trọng tâm. Trong Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH năm 2013 cho rằng hiện nay các hoạt động con ngƣời đóng góp vào 95 % nguyên nhân gây ra BĐKH, làm nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên nhanh chóng trong hơn nửa thế kỉ qua, chẳng hạn nhƣ việc đốt các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, v.v.) phục vụ các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải,…và thay đổi mục đích sử dụng đất bao gồm thay đổi trong nông nghiệp và nạn phá rừng; ngoài ra còn một số hoạt động khác như đốt sinh khối, sản phẩm sau thu hoạch,…
Cũng theo thông báo thứ 2 của Việt Nam với Công ƣớc khung Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) thì kết quả kiểm kê Khí Nhà kính (KNK) năm 2000 của Việt Nam là khoảng 143 triệu tấn khí CO2/năm. Trong đó nông nghiệp chiếm khoảng 45 %, năng lựợng chiếm khoảng 35 % tổng phát thải KNK của Việt Nam. Điều đó cũng cho thấy Việt Nam là một đất nước có tỉ trọng sản xuất nông nghiệp cao nên khối lượng phát thải KNK chiếm đến 45 %. Sự gia tăng nhiệt độ khí quyển làm cho khí hậu các vùng ở nước ta nóng lên là kịch bản chủ yếu của BĐKH, kết hợp với sự suy giảm lượng mưa làm cho nhiều khu vực khô hạn hơn. Năm 2010, nhiệt độ tăng khoảng 0,3 - 0,50C; và theo các nghiên cứu mới đây nhiệt độ sẽ tăng từ 1,1 - 1,80C vào năm 2100. Những khu vực ở nước ta có nhiệt độ tăng cao nhất là vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1 - 0,3 0C/thập niên.  Tây Nguyên là tên gọi chung của khu vực bao trùm toàn bộ hệ thống cao nguyên rộng lớn nằm ở phía Tây của miền Nam Trung Bộ, trong phạm vi kinh độ 107,41 – 108,39,  vĩ độ 11,32-11,58 và trên độ cao từ 100 mét đến 800 mét so với mực nƣớc biển. Ranh giới tự nhiên gần trùng với năm tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Khí hậu Tây Nguyên nổi lên một số yếu tố riêng biệt, quyết định bởi độ cao và tác dụng chắn gió của dãy Trƣờng
Sơn, hình thành khí hậu đặt trung gọi là khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên; tổng lượng bức xạ mặt trời ở Tây Nguyên khá dồi dào, trung bình đạt 235,240 kcal/cm2/năm khi trời quang mây. Do ảnh hưởng của mây và hơi nước bức xạ mặt trời khi tới mặt đất bị suy giảm, còn khoảng 120-140 kcal/cm2/năm. Tuy nhiên độ chênh lệnh tổng lượng bức xạ của các tháng lớn nhất và tháng nhỏ nhất không nhiều, chỉ khoảng 4-5 kcal/cm2, đây cũng là yếu tố thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và áp dụng các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay. Chế độ nhiệt của Tây Nguyên có quy luật nhiệt độ không khí theo độ cao địa hình: ở những vùng thấp dưới 500 m (Srepok, Krông Pắk) nhiệt độ trung bình 24 oC thì ở những vùng cao 500 – 800 mét nhiệt độ khoảng 21-23 oC, còn ở những vùng cao 800 -1.100 mét (Pleiku) nhiệt độ đã hạ xuống 19 -21 oC và ở những vùng cao trên 1.500 mét (Đà Lạt….) nhiệt độ còn chỉ dưới 19 oC. Lượng mưa ở Tây Nguyên rất không đồng đều theo không gian cũng như thời gian và phân thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 ( trong thời kì này lượng mưa chiếm khoảng 75 % tổng lượng mưa cả năm) và phân bố không điều giữa các vùng : Ở Bắc Tây Nguyên lượng mưa hơn 2.400 mm (Kon Tum), khoảng 2.000 – 2.400 mm;các cao nguyên Gia Lai, Kon Tom, Đắk Lắk ở những địa hình thấp có lượng mƣa 1.600 – 1.800 mm.
Cũng không nằm ngoài sự tác động của BĐKH toàn cầu, các nghiên cứu gần đây cho thấy, so với thập niên 70 - 80 của thế kỉ XX, nhiệt độ không khí trung bình thập niên 90 đến gần đây cao hơn rõ rệt, nhất là vào các tháng mùa mưa (tháng 5 – 10) nhiệt độ trung bình năm phổ biến cao hơn từ  0,5 oC đến 0,8 oC; riêng Kon Tum, cao hơn 1 0C. (Trong khi đó nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng khoảng 0,5 oC đến 0,7 oC); trong các tháng mùa hè, nhiệt độ trung bình phổ biến cao hơn 0,23 oC đến 0,7 oC. Điều này khẳng định sự tăng của nhiệt độ xảy ra ở tất cả các vùng ở Tây Nguyên và nhiệt độ mùa Đông tăng nhanh hơn mùa Hè rõ rệt.  Nhiệt độ tăng cũng là nguyên nhân làm tài nguyên nước suy giảm: Tài nguyên nước mặt (chỉ xét đến lượng nước hiện hữu trên các sông suối điển hình như Sê San, Sê rê pốk, sông Ba và Đồng Nai) đã kiệt dần từ lƣu lƣợng 173.863,54 lít/giây của những năm 2004-2005 xuống còn trên dƣới 127.000 lít/giây hiện nay. Sự phân bổ không đồng đều của lƣợng mƣa theo không gian và thời gian, nơi có lƣợng mƣa hằng năm lớn hơn 3000 mm nhƣ Kon Plong (Kon Tum), thƣợng nguồn sông Hinh (Đắk Lắk) và nơi có lƣợng mƣa chỉ trên dƣới 1.500 mm nhƣ Krông Buk, Ea Súp… thì sự chênh lệch lƣu lƣợng nƣớc ở đỉnh lũ lớn nhất với lƣu lƣợng kiệt nhỏ nhất là rất cao. Mặt khác, những năm gần đây rừng Tây Nguyên bị chặt phá nghiêm trọng, cộng với những yếu tố bất lợi nhƣ mùa khô kéo dài, sự biến đổi thất thƣờng của thời tiết làm cho lũ lụt, hạn hán trở nên trầm trọng hơn. Ngoài ra, Tây Nguyên là nơi thƣợng nguồn của ba hệ thống sông lớn (Sê rê pốk - Sê San nằm ở phía Tây Bắc và sông Đồng Nai ở phía Nam), ngƣời dân tận lực khai thác nƣớc ngầm ngay tại đầu nguồn để tƣới tiêu (cà phê, hoa màu…) khiến mực nƣớc dƣới lòng đất không ngừng bị hạ thấp, dẫn đến quá trình sản xuất tại các vùng hạ lƣu gặp khó khăn. Từ năm 1997, tổng trữ lƣợng nƣớc ngầm (ở trạng thái tĩnh, không có sự tác động bất thƣờng của môi trƣờng tự nhiên) tại Đắk Lắk là 120,9 x 109 m3 đến nay chỉ còn khoảng 30 - 35 %. Sự giàu nghèo tài nguyên nƣớc ở đây phụ thuộc vào lƣợng mƣa, vào thành phần vật chất của lớp phủ bề mặt đất và mức độ lƣu giữ nƣớc của thành tạo địa chất từng vùng. Nếu để suy giảm một hoặc nhiều yếu tố trên sẽ khiến tài nguyên nƣớc nghèo đi. Ngoài lƣợng mƣa hàng năm có xu hƣớng ít đi, do mùa khô kéo dài, thì tình trạng mất rừng và sự thay đổi nhanh chóng của lớp phủ bề mặt trên thành tạo địa chất, mà cụ thể là trên đất (vì mục đích quy họach trồng hoa màu, cây công nghiệp và nhiều dự án nông- lâm nghiệp khác) đã làm cho mực nƣớc ngầm sụt giảm. Mới đây, khảo sát của Đoàn Địa chất 704 cho thấy một số vùng nhƣ ở huyện Krông Pắk, Lắk, Krông Buk và vùng phía Đông Buôn Ma Thuột,… mực nƣớc ngầm tiềm năng không còn nhiều nhƣ 5 năm trƣớc. Ví dụ vùng Krông Pắk, Lắk…năm 2004 có thể khai thác tối đa 0,4 - 0,6 triệu m3/ngày, thì nay còn chƣa đầy 0,4 triệu m3/ngày. Ngoài yếu tố nhiệt độ có xu hƣớng tăng, nguồn nƣớc giảm, dƣờng nhƣ diễn biến thời tiết ở Tây Nguyên đang ngày càng có xu thế cực đoan hơn. Thiên tai xảy ra thƣờng xuyên; lũ lụt, lũ quét vào mùa mƣa; hạn hán, nắng nóng vào mùa khô; các hiện tƣợng thời tiết nguy hiểm khác nhƣ dông, lốc xoáy, mƣa đá xuất hiện ngày càng nhiều và bất thƣờng hơn. Sự gia tăng biên độ nhiệt, độ ẩm ngày đêm, khiến một số nơi đang mất dần tính ôn hòa vốn có của nó. Trong một vài tháng của mùa khô, hiện tƣợng nhiệt độ tăng cao, gây nắng nóng hơn bình thƣờng đã xuất hiện ở một vài nơi. Sự phân bố lƣợng mƣa theo không gian và thời gian cũng có những dấu hiệu thay đổi. Trong đó, đáng lƣu ý nhất là hiện tƣợng mƣa lớn gia tăng khiến lũ quét xuất hiện nhiều hơn. BĐKH cũng đƣợc xem là tác nhân chính làm cho dòng chảy sông suối ở Tây Nguyên mất đi sự hiền hòa vốn có, thể hiện nhiều qua mức độ cạn kiệt nghiêm trọng trong mùa khô, và đỉnh lũ ngày càng nhọn hơn, cao hơn, cƣờng suất lũ lên lớn hơn trong mùa lũ.
Do vậy, để giảm nhẹ sự tác động của BĐKH, thiên tai gây ra. Tây Nguyên cần tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với BĐKH, chủ động phòng, tránh thiên tai là chủ yếu. Cụ thể cần thực hiện một số giải pháp sau: Một là, quản lí bảo vệ nguồn nƣớc: Nƣớc là tài nguyên không thể thiếu trong cuộc sống của con ngƣời, sinh vật, có mối quan hệ hữu cơ với các thành phần kinh tế, đặc biệt không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp. Do vậy, để có cơ sở thích ứng với BĐKH cần phải nghiên cứu, đánh giá sự tác động của BĐKH đến tài nguyên nƣớc phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt; đánh giá công năng và tình trạng hoạt động của công trình thủy lợi lớn và nhỏ, trên cơ sở đó đƣa ra những giải pháp nâng cấp, bổ sung các công trình này để phù hợp với hoàn cảnh của BĐKH; xây dựng các hồ chứa đa mục đích để sử dụng một lƣợng nƣớc nhất định vào nhiều đối tƣợng khác nhau. Tây Nguyên cũng là nơi thƣợng nguồn của ba con sông lớn nên cần có các chiến lƣợc bảo vệ nguồn nƣớc ngay ở thƣợng nguồn; có kế hoạch cân đối nguồn cung và nhu cầu nƣớc theo từng vùng canh tác; trong sinh hoạt cần phải định mức sử dụng nƣớc và giá nƣớc phù hợp với tình hình thực tế của địa phƣơng; nghiên cứu đƣa ra biện pháp kĩ thuật tƣới tiêu cho nông nghiệp nhằm giảm thất thoát nƣớc cũng nhƣ tiết kiệm nƣớc. Hai là, điều chỉnh quy hoạch đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng thời vụ phù hợp với hoàn cảnh  ĐKH: Trong sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp, xây dựng các biện pháp kĩ thuật, tăng cƣờng hệ thống tƣới tiêu và các biện pháp chống chịu với ngoại cảnh khắc nghiệt. Sử dụng các giống kháng, chịu hạn (cà phê, lúa, ngô...), các loại giống ra hoa nhiều lần, bộ giống cây lƣơng thực, thực phẩm ngắn ngày; bố trí thời vụ thích hợp để tránh hạn, tránh lũ. Tăng cƣờng đa dạng sinh học trên vƣờn cà phê nhƣ trồng cây che bóng, cây ăn quả, cây đai rừng sẽ là giải pháp thích ứng với BĐKH hiệu quả do hệ thống cây trồng này có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau trong việc điều hòa vi khí hậu, hạn chế bốc thóat hơi nƣớc trên bề mặt đất và lá, cung cấp hữu cơ, cải tạo đất, hạn chế xói mòn và rửa trôi đất giúp sản xuất cà phê bền vững hơn. Tƣới nƣớc tiết kiệm hợp lí cho cây trồng cũng là giải pháp kĩ thuật nhằm thích ứng với sự BĐKH ở Tây Nguyên. Chuyển một số diện tích đất trồng điều ở các vùng có điều kiện khí hậu bất thuận, sản xuất không hiệu quả sang trồng các loại cây khác có hiệu quả hơn nhƣ sắn, khoai lang, khoai môn là những loại cây có khả năng thích ứng cao với sự BĐKH và từng bƣớc thay đổi khẩu phần lƣơng thực của chúng ta từ gạo là chủ yếu sang một phần các loại củ để giảm áp lực về an ninh lƣơng thực trong tƣơng lai.
Ba là, tiết kiệm n ng lƣợng, khai thác nguồn n ng lƣợng mới: Ở Tây Nguyên, thủy năng đƣợc ƣu tiên phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua nhƣng theo diễn biến của BĐKH hiện nay thì trong tƣơng lai có thể hết khả năng xây dựng thêm các nhà máy thủy điện mới, không ít công trình thủy điện xây lên đã ảnh hƣởng xấu đến các vùng đất canh tác nông nghiệp ở hạ lƣu (Mùa khô thì ngăn dòng chảy, mùa mƣa thì xả nƣớc gây ngập úng, xói mòn đất trồng hoa màu). Trong khi, nhu cầu năng lƣợng để phục vụ cho phát triển kinh tế ngày càng cao, nếu ta không phát triển năng lƣợng khác ngoài thủy năng thì năng lƣợng sẽ thiếu trong tƣơng lai. Do vậy, phát triển các dạng năng lƣợng khác là phƣơng án tối ƣu để thích ứng với kịch bản của BĐKH. Một trong những giải pháp là khai thác các nguồn năng lƣợng tái tạo. Tây Nguyên là vùng có tốc độ gió khả quan nhất Việt Nam; tốc độ gió trung bình trên 2,5m/s khá rộng, nhiều nơi tốc độ gió trên 3m/s, trên các núi cao có thể vƣợt 4m/s – một ƣu thế để phát triển năng lƣợng gió. Năng lƣợng từ mặt trời: trung bình năm ở nƣớc ta có khoảng 1400 - 3000 giờ nắng, trong khi đó khu vực Tây Nguyên trung bình năm khoảng 2000 –2600 giờ nắng với 150 –175 kcal/cm2/năm, đây cũng là nguồn năng lƣợng dồi dào, thân thiện và bền vững. Khai thác tài nguyên mây và làm mƣa nhân tạo cũng có khả thi vào những tháng mùa khô kéo dài phục cho tƣới tiêu. Với những thế mạnh trên vùng Tây Nguyên có thể bổ sung hoặc thay thế thủy năng bằng các dạng năng lƣợng thân thiện với môi trƣờng.  Bên cạnh đó, tiết kiệm năng lƣợng cũng là một giải pháp để giảm sự tác động của BĐKH, thiên tai gây ra: Ở Tây Nguyên, năng lƣợng (điện và xăng dầu) phục vụ cho tƣới tiêu vào mùa khô rất lớn, do vậy, cần đƣa ra các biện pháp kĩ thuật giảm lƣợng nƣớc tƣới trên một diện tích cây trồng cũng nhƣ giảm lƣợng thất thoát nƣớc tƣới nhƣ thay đổi cách tƣới truyền thống bằng phƣơng pháp tƣới nhỏ giọt…
Bốn là bảo vệ và phát triển rừng: Rừng chính là “máy điều hòa khí hậu” khổng lồ. Các nhà khoa học cho biết: Tạm tính trên 1.000.000 ha nếu chỉ 50% diện tích có rừng cây thân gỗ thì mỗi năm rừng ở Trƣờng Sơn giữ đƣợc 22-25 triệu tấn CO2, bởi vậy rừng góp phần đáng kể vào giảm sự nóng lên toàn cầu. Vì vậy, tăng cƣờng trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học ở rừng, đặc biệt là đảm bảo an ninh môi trƣờng sẽ là một chiến lƣợc thích ứng lợi hại của Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng trƣớc ảnh hƣởng BĐKH. Bên cạnh đó cần nâng cao hiệu quả công tác tổ chức phòng chống cháy rừng; nâng cao hiệu suất sử dụng gỗ và cần hạn chế sử dụng nguyên liệu gỗ (điều tra hiện trạng sử dụng gỗ và hiệu suất sử dụng gỗ; nghiên cứu đánh giá cơ chế tài chính khuyến khích sản - xuất vật liệu thay thế gỗ); bảo vệ giống cây trồng quý hiếm, lựa chọn và nhân giống cây trồng thích hợp với vùng Tây Nguyên N m là, chủ động phòng tránh các thiên tai do thiên nhiên gây ra: Ảnh hƣởng của BĐKH gây ra lũ lụt, lũ quét, hạn hán, nắng nóng, dông, lốc xoáy, mƣa đá xuất hiện ngày càng nhiều và bất thƣờng hơn trƣớc. Do vậy phải tăng cƣờng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai; đƣa những kiến thức cơ bản về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai vào chƣơng trình giáo dục trong nhà trƣờng, nhằm giáo dục cho học sinh hiểu và biết cách đối phó với các tình huống thiên tai. Sáu là, nâng cao nhận thức cộng đồng về  ĐKH và thích ứng với  ĐKH: Tăng cƣờng công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức của cán bộ và ngƣời dân về BĐKH và tác hại của nó đối với các hoạt động kinh tế xã hội; về cách thức và phƣơng án giảm nhẹ thiên tai để từ đó thay đổi thái độ, hành vi ứng xử trong hoạt động sống của mình (lao động sản xuất, học tập, sinh hoạt, công tác, sử dụng tài nguyên…).
Biến đổi khí hậu đã có những tác động rõ rệt đến tài nguyên nƣớc trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Đặc biệt là ở các tỉnh Tây Nguyên, vùng sản xuất cây công nghiệp lớn của đất nƣớc, xu thế tăng về nhiệt độ, lƣợng nƣớc tƣới tiêu cho nông nghiệp giảm mạnh, thời tiết cực đoan, thiên tai xảy ra cục bộ với cƣờng xuất mạnh hơn. Hiện nay Việt Nam đã có chƣơng trình Mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu và các tỉnh, thành đã có kế hoạch hành động, đƣa ra giải pháp thích ứng phù hợp với điều kiện địa phƣơng. Trên cơ sở các phƣơng pháp dân gian cải tiến và giải pháp thích ứng, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp chính, phù hợp, góp phần bảo vệ và phòng chống thời tiết cực đoan, phòng hạn, phòng chống suy thoái tài nguyên nƣớc cho khu vực và điều chỉnh cây trồng phù hợp với tình hình hiện nay

Khả năng xử lý dư lượng kháng sinh trong bùn của cây đước

Khả năng xử lý dư lượng kháng sinh trong bùn của cây đước là công trình nghiên cứu khoa học của công ty môi trường Đoàn Gia Phát về phương pháp xử lý nước thải đạt chuẩn loại A tốt nhất Hotline : 0917080011

  • Nguyên nhân bão cát hoành hành khắp Trung Đông
Ciprofloxacin (CIP) là kháng sinh thuộc nhóm fluoroquinolon đƣợc sử dụng rộng rãi trong nuôi tôm giống ở vùng đất ngập nƣớc Cần Giờ. Trong thực tế lƣợng kháng sinh đƣợc hấp thu bởi vật nuôi khá thấp và phần lớn còn tồn lƣu lại. Vì vậy, vùng đất ngập nƣớc có thể bị nhiễm và có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái từ dƣ lƣợng CIP. Trong nghiên cứu này khả năng loại bỏ CIP bằng kĩ thuật Phytoremediation của thực vật đất ngập nƣớc bản địa (cây Đƣớc- Rhizophora apiculata Blume) của khu vực Cần Giờ ,Tp.HCM đã đƣợc khảo sát. Thí nghiệm đƣợc tiến hành trong mô hình chậu trong vƣờn có mái che. CIP đƣợc tƣới mỗi ngày một lần (phơi nhiễm mãn tính) cho cây ở nồng độ 2 ppm tƣơng đƣơng với 2 mg/kg đất. Hiệu quả loại bỏ CIP bởi cây Đƣớc đƣợc thể hiện rõ ở tuần đầu, sau 4 tuần thì vai trò của cây không còn nữa (hiệu quả loại bỏ CIP ở chậu có trồng cây là 75,34 ± 3,3 %, ở chậu không có trồng cây là 75,51 ± 2,9 %). Kết quả của thí nghiệm cho thấy phƣơng pháp “phytoremediation” có sử dụng thực vật bản địa vùng đất ngập nƣớc là biện pháp đáng quan tâm để giảm thiểu tác dụng của CIP tích lũy trong đất vùng đất ngập nƣớc. Kết quả của đề tài đã cho thấy sự cần thiết triển khai những nghiên cứu chi tiết hơn về khả năng phân hủy kháng sinh của thực vật và vai trò của các vi sinh vật.
Trong thập kỉ qua, do tần suất phát hiện các hợp chất dƣợc phẩm trong nƣớc thải ngày càng gia tăng nên đã dẫn đến sự gia tăng các mối quan tâm đến việc loại bỏ các chất gây ô nhiễm. Một số công nghệ tiên tiến đã đƣợc đánh giá nhƣ quá trình oxy hóa tiên tiến [1], hấp thụ cacbon hoạt tính [2], màng lọc và màng phản ứng sinh học [1]. Các phƣơng pháp này cho thấy có hiệu quả xử lí cao nhƣng còn nhiều hạn chế vì các quá trình này không thể áp dụng rộng rãi, chủ yếu là vì giá thành cao. Gần đây, “phytoremediation” là một trong những kĩ thuật xử lí sử dụng thực vật đƣợc triển khai thực tế thân thiện với môi trƣờng để loại bỏ các chất gây ô nhiễm trong đó có dƣợc phẩm [3]. Biện pháp này có hiệu quả cao với chi phí hợp lí do công nghệ đơn giản vì vậy thích hợp với các hộ nuôi tôm ở quy mô hộ gia đình. Một vài ví dụ về sự thành công của phƣơng pháp “phytoemediation” đã đƣợc báo cáo bởi Gujarathi [1]; Kotyza và cộng sự, 2010 [4].
Tại khu vực Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh, đã khảo sát thấy có hiện trạng sử dụng kháng sinh ở khu vực tại các hộ nuôi tôm giống [5]. Vì tôm trƣởng thành thƣờng xuyên đƣợc kiểm tra dƣ lƣợng kháng sinh nên gần nhƣ các hộ nuôi tôm đã có ý thức sử dụng theo đúng hƣớng dẫn. Tuy nhiên, đối với tôm giống thì không có bất cứ quy định nào nên tại tất cả các hộ ƣơm tôm giống đƣợc khảo sát đều sử dụng kháng sinh, trong đó phổ biến là CIP với tỉ lệ hộ dân phỏng vấn sử dụng là 100%.
Cũng theo nhóm nghiên cứu, kết quả phân tích dƣ lƣợng kháng sinh do hoạt động nuôi tôm tại các vùng đất ngập nƣớc ven biển huyện Cần Giờ đã cho thấy CIP sau khi đƣợc sử dụng để phòng và trị bệnh cho tôm giống đều không bị hấp thu hoàn toàn bởi tôm mà đã tồn lƣu trong môi trƣờng ao nuôi/bể ƣơng và cả ở nguồn tiếp nhận. Hàm lƣợng CIP đã xác định đƣợc tại 3 hộ ƣơm tôm giống ở Cần Giờ là 0,35-1,23 mg/l, trung bình 0,90 mg/l. CIP sau khi đƣợc sử dụng không những tích lũy lại trong ao ƣơm mà còn bị thải trở lại môi trƣờng ngoài. Trong mẫu bùn của nguồn tiếp nhận từ ao ƣơm ở ấp Đồng Tranh, Cần Giờ phát hiện dƣ lƣợng kháng sinh CIP với hàm lƣợng 1,54 -1,88 mg/kg. Ngoài ra, cũng đã phát hiện hàm lƣợng CIP trong bùn thải của ao nuôi tôm giống tại Cần Giờ với nồng độ 22,1 µg /kg [6].
Nghiên cứu trình bày ở đây đƣợc thực hiện để đánh giá khả năng loại bỏ kháng sinh của một loài thực vật đất ngập nƣớc tiêu biển  -  cây Đƣớc (Rhizophora apiculata Blume). Các nghiên cứu ở quy mô  phòng thí nghiệm đã đƣợc thực hiện để đánh giá hiệu quả xử lí của Ciprofloxacine (CIP) - kháng sinh đƣợc sử dụng rộng rãi trong nuôi tôm ở khu vực Cần Giờ - ở các mô hình trồng cây Đƣớc và phơi nhiễm mãn tính CIP.
Đất sử dụng trong thí nghiệm đƣợc lấy từ khu vực xã Long Hòa, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh (tọa độ 106053,41‟; 10027,49‟). Mẫu đất trƣớc khi tiến hành thí nghiệm đƣợc kiểm tra không có CIP (< 3,8 ppb).  Hạt Đƣớc đƣợc lấy từ vùng đất ngập nƣớc huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh và trồng trong chậu với thời gian 2 tháng (tháng 4 đến tháng 6 năm 2015). Đến khi cây ra lá và đạt chiều cao trung bình khoảng 40 cm thì tiến hành tƣới CIP (Hình 1). Độ mặn của đất đƣợc duy trì nhƣ ngoài môi trƣờng tự nhiên trong suốt quá trình thí nghiệm bằng cách bổ sung nƣớc muối nồng độ 2,9 ‰ (bằng nồng độ đo đƣợc khi lấy mẫu đất) với tần suất 1 lần/tuần. Chất chuẩn CIP do hãng Sigma Fluka cung cấp. Độ tinh khiết ≥ 98 %.
Nghiên cứu bao gồm ba mô hình thí nghiệm: - Mô hình D-D-CIP (thí nghiệm có trồng cây và phơi nhiễm mãn tính CIP): Cây Đƣớc đƣợc trồng trong chậu nhựa kín đáy hình tròn có đƣờng kính 30 cm, sâu 15 cm với lƣợng đất là 6kg. Nƣớc đƣợc bổ sung sao cho mặt nƣớc cách lớp đất 1-2 cm. Lƣợng nƣớc cho vào là nƣớc đƣợc pha có độ mặn tƣơng tự nhƣ khu vực lấy mẫu  đất ở Cần Giờ (2,9 ‰). Các mô hình đƣợc phơi nhiễm mãn tính bằng cách pha CIP với nồng độ 2 ppm tƣơng đƣơng 12 mg cho mỗi chậu. Dung dịch pha CIP đƣợc tƣới vào các chậu trồng cây mỗi ngày một lần trong suốt chu kì 28 ngày thí nghiệm. Các chậu đƣợc đặt ngoài ánh sáng tự nhiên có mái che bằng nhựa trong suốt để tránh mƣa. Mỗi chậu trồng từ 4-5 cây Đƣớc. - Mô hình D-D: mô hình có trồng cây Đƣớc tƣơng tự nhƣ mô hình D-D-CIP nhƣng không phơi nhiễm CIP. Kết quả so sánh sinh khối giữa mô hình này và mô hình  D-D-CIP  sẽ  đánh giá đƣợc có hay không sự ảnh hƣởng của quá trình phơi nhiễm CIP lên tốc độ sinh trƣởng của cây Đƣớc.
Mô hình Đ-CIP: mô hình đất tự nhiên, không trồng cây nhƣng có phơi nhiễm mãn tính CIP tƣơng tự nhƣ mô hình D-D-CIP.  Kết quả so sánh sự thay đổi hiệu quả xử lí CIP của mô hình D-CIP và D-D-CIP sẽ đánh giá khả năng phân hủy CIP của cây Đƣớc. Tất cả ba mô hình thí nghiệm đều đƣợc lặp lại 3 lần để tránh sai số. Mẫu đất phân tích CIP đƣợc thu thập vào các ngày 2, ngày 7 và ngày 28. Tất cả lƣợng đất trong chậu đƣợc trộn đều, loại bỏ các hạt kích thƣớc lớn bao gồm cả rễ cây. Mẫu sau khi lấy đƣợc cho vào bọc ni lông đen, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng và chuyển đến phòng thí nghiệm.   2.3. Phƣơng ph p phân tích  2.3.1. Phân tích CIP Việc phân tích CIP đƣợc thực hiện bởi Công ty TNHH MTV Khoa học Công nghệ Hoàn Vũ bằng máy sắc kí lỏng hiệu năng cao kết hợp đèn hu nh quang (HPLC-FD) theo tiêu chuẩn AOAC (82: 607–613) nhƣng có thay đổi nhƣ sau: 2 g mẫu đất ƣớt đã đồng nhấtđƣợc chiết bằng cách cho vào 20ml dung dịch đệm HCOOCH4 0,2 %, pH = 7, vortex 2 phút và ly tâm (3.000 vòng/ phút) 15 phútở nhiệt độ phòng. Sau đó cho thêm 10mL hexan  rồi ly tâm thêm 15 phút. Dịch lọc sau đó đƣợc làm sạch bằng cách cho qua cột C18 và tách rửa với 5ml dung dịch MeOH và dung dịch NH325 % (tỉ lệ 85:15). Dung dịch chiết đƣợc tiêm vào hệ thống HPLC-FD để phân tích CIP. Phƣơng pháp có LOD = 1,2 ppb và LOQ = 3,8 ppb với hệ số thu hồi dao động trong khoảng 85-95 %. 2.3.2. Xác định sinh khối khô của thực vật Sinh khối khô của thực vật sau thí nghiệm đƣợc xác định bằng cách sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ 105 0C trong 2 giờ và lặp lại 3 lần cho đến khi sinh khối thực vật không đổi.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

Nguyên nhân bão cát hoành hành khắp Trung Đông

Những ngày gần đây tình trạng bão cát hoàng hành khắp vùng Trung Đông gây ảnh hưởng tới sức khỏe của nhiều vùng quốc mà con bão này đi qua trong đó phải kể đến là vấn đề khí hậu nóng lên do chúng ta không bảo vệ môi trường của mình - Công ty chuyên xử lý nước thải sinh hoạt Đoàn Gia Phát

  • Nhận xử lý nước thải 

"Cơn bão cát lớn như trên được gọi là haboobs, hay 'gió dữ' trong tiếng Arab. Haboobs có thể phát triển ở nhiều nơi trên thế giới, di chuyển hàng nghìn km, thậm chí vượt qua cả Thái Bình Dương," Ken Waters, chuyên gia dự báo thời tiết ở Mỹ, cho biết.

Cơn bão cát, hay còn gọi là bão bụi, thổi qua Trung Đông hôm 7-8/9 làm giảm tầm nhìn, ảnh hưởng đến giao thông và khiến hàng nghìn người phải nhập viện do gặp phải vấn đề đường hô hấp tại nhiều khu vực ở Iraq, Syria, Lebanon, Ai Cập, Jordan, Israel, và Cyprus.

Các nhà khí tượng Lebanon cho rằng đây là cơn bão "chưa từng có" trong lịch sử nước này. Tuy nhiên, Waters cho biết, bão cát là hiện tượng tự nhiên không phải hiếm gặp. Haboobs xuất hiện phổ biến nhất trong điều kiện thời tiết nóng và khô, thịnh hành ở hầu khắp khu vực Trung Đông trong mùa hè này. Hai yếu tố cần thiết để tạo ra cơn bão cát là bụi hoặc cát sẵn có trên bề mặt, và những cơn gió thổi liên tục mang những hạt này chuyển động.

Các nhà khoa học không biết chắc chắn tốc độ gió tối thiểu đề hình thành bão cát. Tốc độ gió ghi nhận ở những cơn bão cát cục bộ khá thấp, chỉ khoảng 32 km/h. Một số cơn bão lớn hơn, chẳng hạn như cơn bão gây thiệt hại nặng nề cho hai thành phố Damascus (Syria) và Beirut (Lebanon) vào tuần này, cần tốc độ gió cao hơn để di chuyển xa hơn. Cơn bão cát tràn qua khu vực tương tự trong năm 2013 có tốc độ gió lên tới 97 km/h.

Ở miền tây nước Mỹ, những cơn bão bụi xuất hiện phổ biến nhất giữa tháng 6 và tháng 9, trong điều kiện nóng, khô, khi lượng hơi ẩm trong không khí không đủ để ngăn cản các hạt bụi bốc lên. Những hoạt động xây dựng, trồng trọt của con người cũng góp phần tạo ra bụi gây nên cơn bão. Trong thập niên 1930, các hình thức canh tác lạc hậu đã gây nên những cơn bão bụi khổng lồ có tên là Dust Bowl ở khu vực Bắc Mỹ khiến hàng ngàn người mất nhà cửa.

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Nghiên cứu đề xuất các dự án ưu tiên thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn vũng tàu

Nghiên cứu đề xuất các dự án ưu tiên thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn vũng tàu là chủ đề mới nhất của trung tâm môi trường Đoàn Gia Phát về phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt  Hotline : 0917080011

  • Các rào cản trong truyền thông dựa vào cộng đồng ứng với biển đổi khí hậu ở vùng ven biển sông cửu long
Nghiên cứu đề xuất các chƣơng trình, dự án ƣu tiên thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là việc đề xuất các dự án nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của tỉnh, tận dụng các cơ hội phát triển nền kinh tế theo hƣớng các-bon thấp và tham gia cùng cộng đồng trong nƣớc, quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ BĐKH, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất. Nghiên cứu đã dựa trên kết quả phân tích và tính toán nhiệt độ, lƣợng mƣa cho các kịch bản phát thải thấp (B1), trung bình (B2), cao (A1FI); đồng thời tính ngập cho các kịch bản phát thải B1, A1FI vào các giai đoạn 2020, 2050, 2070 trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Dựa trên cơ sở kết quả tính toán và dự báo cho các kịch bản phát thải trong từng thời k , nghiên cứu đã đề xuất các chƣơng trình, dự án ƣu tiên cho từng ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh thông qua việc  tích hợp các vấn đề về BĐKH và nƣớc biển dâng vào các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chính là cửa ngõ hƣớng ra biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ. Vị trí này cho phép tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế biển nhƣ: khai thác dầu khí trên biển, khai thác cảng biển và vận tải biển, khai thác và chế biến hải sản, phát triển du lịch nghỉ dƣỡng và tấm biển. Ở vị trí này, Bà Rịa - Vũng Tàu có điều kiện phát triển tất cả các tuyến giao thông đƣờng bộ, đƣờng không, đƣờng thủy, đƣờng sắt và là một địa điểm trung chuyển đi các nơi trong nƣớc và thế giới. Do những đặc điểm trên, biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng sẽ tác động nhiều mặt đến kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống xã hội và sản xuất, đánh bắt thủy sản, du lịch cũng nhƣ đời sống ngƣời dân. Biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất và cƣờng độ thiên tai nhƣ bão, lũ, hạn hán, mƣa lớn, nắng nóng... và có thể trở thành thảm họa, gây rủi ro lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc xóa đi những thành quả nhiều năm của sự phát triển. Biến đổi khí hậu có thể dẫn đến 5 nguy cơ lớn: giảm năng suất nông nghiệp; gia tăng tình trạng thiếu nƣớc; gia tăng thời tiết cực đoan; tan vỡ các hệ sinh thái và gia tăng bệnh tật. Nghiên cứu đề xuất các chƣơng trình, dự án ƣu tiên thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là việc đề xuất các dự án nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của tỉnh, tận Điều tra, khảo sát và thu thập, kế thừa các thông tin liên quan: tìm kiếm, tiếp cận các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu trên địa bàn tỉnh; tổ chức thu thập và phân tích đánh giá các nguồn tài liệu thu thập trong và ngoài tỉnh, tổng hợp lại các thông tin liên quan phù hợp với mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài; thực hiện thu thập thông tin thông qua phiếu thu thập thông tin đối các đối tƣợng là ngƣời dân, nhà quản lí. - Phƣơng pháp phân tích dữ liệu khí tƣợng, thủy văn: Trên cơ sở phân tích nguyên nhân, cơ cấu và biểu hiện của xu thế biến đổi khí tƣợng, thủy văn, đi đến những nhận định khách quan về xu thế diễn biến và ƣớc lƣợng đƣợc trị số trung bình và cực trị của một số đặc trƣng khí tƣợng, thủy văn chủ yếu trên khu vực nghiên cứu. Phƣơng pháp chính sử dụng là toán thống kê phân tích chuỗi thời gian các dữ liệu thu thập đƣợc qua các năm; - Phƣơng pháp áp dụng mô hình: Sử dụng các phƣơng pháp mô hình dùng để mô phỏng quá trình biến đổi của các yếu tố khí hậu theo không gian và thời gian. Phƣơng pháp mô hình dùng trong nghiên cứu này là việc ứng dụng phần mềm SimCLIM nhằm tạo ra các kịch bản về nhiệt độ, lƣợng mƣa trung bình và kịch bản nƣớc biển dâng qua các giai đoạn và theo kịch bản phát thải. Bên cạnh đó nghiên cứu còn sử phần mềm GRASS trong công tác đánh giá ngập, GRASS (Geographical Resources Analysis Support System) là một hệ thống thông tin địa lí đƣợc kết hợp với hệ thống xử lí ảnh và hiển thị dữ liệu. - Phƣơng pháp GIS: Sử dụng hệ thông tin địa lí nhằm tích hợp các loại thông tin số liệu, tài liệu, bản đồ,… liên quan đến khí hậu và BĐKH phục vụ công tác quản lí và khai thác thông tin. - Phƣơng pháp chuyên gia phân tích và thảo luận: Trên cơ sở các thông tin tổng hợp từ các nguồn dữ liệu liên quan, phƣơng pháp phân tích và thảo luận sẽ đƣợc các nhà nghiên cứu thực hiện thông qua hình thức hội thảo nhằm tham khảo, trao đổi ý kiến cán bộ nghiên cứu và quản lí của các sở, ban ngành trên địa bàn Tỉnh.