Thứ Năm, 19 tháng 5, 2016

70 tấn cá chết trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè đã được vớt

Sau khi thông tin hoàng loạt cá chết trắng nổi lên ỏ kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè thì sáng nay hơn chục cano vớt cá lên gần 70 tấn của công ty môi trường đô thị TP để tránh ô nhiễm nguồn nước thải

  • xử lý nước thải cao su
  • Nắng nóng kỷ lục khiến cho học sinh phải nghỉ học ở Campuchia

Trước đó, trong buổi sáng 18-5, hơn 10 canô với hàng chục công nhân Công ty TNHH một thành viên môi trường đô thị TP tiếp tục vớt cá chết trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè.

Khu vực các phương tiện tập trung từ cầu số 5, số 6, số 7 gần khu vực đầu kênh. Số lượng cá chết đến thời điểm này chưa có con số chính thức, nhưng tính đến 17g ngày 17-5 là 14 tấn.

Theo ông Huỳnh Minh Nhựt - giám đốc Công ty TNHH một thành viên môi trường đô thị TP, có tới 54 canô, tàu với 250 lao động được huy động vớt cá chết suốt đêm qua đến sáng nay 18-5.

Tuy nhiên buổi sáng nước trên kênh hạ thấp nên một số tàu cỡ lớn không tiếp tục vớt cá được.

Theo quan sát dọc tuyến kênh, cá chết nổi trắng đã được vớt gần hết, chỉ còn tập trung một số khu vực đầu nguồn.

Tại các khu vực này, mùi hôi từ xác cá phân hủy bốc lên nồng nặc. Ông Nhựt cho biết đến trưa nay sẽ cơ bản vớt hết cá chết nổi trên kênh.

Trong khi đó, để cải thiện môi trường nước trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, ông Trần Đình Vĩnh - chi cục trưởng Chi cục Quản lý chất lượng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản - cho biết đã nhập 30 tấn chế phẩm sinh học zeolite và tiếp tục rải xuống kênh.

Bên cạnh đó còn sử dụng bột oxygen rải xuống kênh để làm tăng oxy trong nước. Ghi nhận bước đầu cho thấy chất lượng nước có cải thiện.

Việc lấy mẫu nước dọc theo tuyến kênh (10 điểm) để xét nghiệm sẽ được thực hiện liên tục theo ngày.





Nắng nóng kỷ lục khiến cho học sinh phải nghỉ học ở Campuchia

Nắng nóng kỷ lục khiến cho học sinh phải nghỉ học ở Campuchia sau khi đón nhận mùa hạn hán kéo dài gây ảnh hưởng tới mùa màng sức khỏe giết hàng trăm con gia súc gia cầm trên diện rộng - ủy ban campuchia cho hay số lượng học sinh nghỉ học chiếm 30-40%.

  • xử lý nước thải bệnh viện
  • ý tưởng mới cho vườn cây xanh










Ý tưởng mới cho vườn cây xanh

Với ý tưởng mới trong vệc tạo ra những cây xanh quang học mà không cần đến bàn tay của con người giờ đây chỉ cần giúp cây xanh tự kích thích hấp thụ chất dinh dưỡng đó là ý tưởng tốt


Theo Science Alert, nhiều loại cây chúng ta trồng trong vườn hay trong nhà phụ thuộc rất nhiều vào sự chăm sóc của con người. Chúng ta phải tưới đủ nước, tắm đủ nắng cho chúng. Tuy nhiên, mọi việc có thể thay đổi nhờ một dự án giúp cây tự đi tìm nguồn dinh dưỡng lý tưởng, mà không cần đến bàn tay chăm sóc của con người.

Dự án kỳ lạ có tên "Hortcum machina, B" này là ý tưởng của William Victor Camilleri và Danilo Sampaio, trường Kiến trúc Bartlett, Đại học College, London.

Nó sử dụng một loạt các cảm biến để theo dõi điện sinh lý học của Trái Đất, về cơ bản sẽ cho chúng có một hình thức sơ khai của "trí thông minh", theo nhóm nghiên cứu.

"Nó mang bên trong 12 khối vườn, mỗi khối trồng một loài cây bản địa của Anh với một thiết bị truyền động tuyến tính cho phép cấu trúc di chuyển bằng cách thay đổi trọng tâm", nhóm nghiên cứu cho biết.

"Cảm biến điện sinh lý các trạng thái của từng loài cây điều khiển chung quá trình ra quyết định về hướng của cấu trúc và tính di động của nó".

Nói cách khác, khu vườn có thể lăn đi tới khi nào các cảm biến điện hóa học của nó phát hiện ra một môi trường sống lý tưởng. Sau đó, nếu các điều kiện giữ nguyên, nó có thể đứng lại hoặc chuyển sang vị trí mới nếu môi trường thay đổi.

Hiện nhóm nghiên cứu không công bố nhiều thông tin về hệ thống vườn với đánh giá môi trường tại các khu vực khác nhau thế nào, nhưng hệ thống sẽ đưa đến tiềm năng rất lớn cho những lĩnh vực khác xa làm vườn.

"Trong tương lai gần, cùng với xe tự lái và các thiết bị di chuyển bay tự động và rất nhiều dạng robot thông minh khác, Hortum machina B có thể sẽ là những thợ làm vườn trong thành phố", theo nhóm nghiên cứu

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

20 thành phố ô nhiễm nặng nề nhất thế giới

20 thành phố ô nhiễm nặng nề nhất thế giới trong đó chiếm đa số là Ấn Độ một quốc gia phát triển công nghiệp không đi đôi bảo vệ môi trường gây ra thảm họa của bao cao giam sat moi truong dinh ky

  • Biến đổi khí hậu ngăn Thành Cát Tư Hãn thôn chiếm Nam Tống

Sự thật đã được chứng minh bởi một báo cáo của Tổ chức y tế WHO vào hồi năm ngoái, Ấn Độ mới đang là quốc gia có số lượng thành phố ô nhiễm hàng đầu trên thế giới, trong đó ô nhiễm nhất là thủ đô New Delhi.




Theo báo cáo chỉ ra, Ấn Độ đang có 13 trong số 20 thành phố ô nhiễm nhất trên thế giới. Con số này phần nào cũng phản ánh nên mức độ sức khỏe và tình trạng môi trường sống xuống cấp tại quốc gia có số dân đông thứ hai trên thế giới và là nền kinh tế lớn thứ 3 Châu Á.

Báo cáo trên cũng đồng thời xếp hạng 1.600 thành phố ở 91 quốc gia về chỉ tiêu chất lượng không khí có nồng độ bụi an toàn từ 10 PM tới 2.5 PM. Tức là nếu như nồng độ các hạt bụi và chất độc hại trong không khí có đường kính nhỏ hơn 2,5 -10 micron tăng lên cao sẽ dẫn tới khả năng gây bệnh phổi cho con người ngày càng lớn.

Tại thủ đô New Delhi, nồng độ bụi trung hình hàng năm trong không khí đo được là 153 ug/m3 (microgram trên mỗi m3 khí), con số này gấp 6 lần so với mức tối đa khuyến nghị của WHO. Tại nhiều thời điểm khác nhau trong năm con số này thậm chí còn cao hơn rất nhiều, nhất là vào mùa nắng nóng và hoạt động công nghiệp diễn ra mạnh mẽ.

Biến đổi khí hậu ngăn Thành Cát Tư Hãn thôn chiếm Nam Tống

Theo dự án báo về xử lý nước thải sinh hoạt cho thấy Biến đổi khí hậu ngăn Thành Cát Tư Hãn thôn chiếm Nam Tống là một trong những sự kiện nổi bật của lịch sử trung quốc bấy giờ
  • Câu chuyện về người phụ nữ với ba đời chồng mắc bệnh bụi phổi
Theo SCMP, khu vực miền trung, miền đông và miền nam Trung Quốc nằm trong số những nơi nóng nhất trong thế kỷ 13 ở châu Á. Khí hậu ấm lên bất thường khiến năng suất lúa tăng lên, lương thực dư thừa đủ để nuôi quân và đặt nền tảng vững chắc cho kinh tế và khoa học kỹ thuật địa phương phát triển.

Do đó, đây là bằng chứng cho thấy biến đối khí hậu đóng vai trò như một Vạn Lý Trường Thành ở nam trung bộ, ngăn quân nhà Mông đánh chiếm. Nhà Nam Tống được hưởng lợi nhiều nhất từ biến đổi khí hậu, trong khi triều đại nhà Nguyên ngày một yếu đi vì kinh tế kiệt quệ và nạn tham nhũng.

Nhóm nghiên cứu quốc tế do Shi Feng, giáo sư Viện Địa chất và Địa vật lý, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, dẫn đầu, cùng với các đồng nghiệp châu Âu, Nhật Bản, Nepal và Pakistan đã phân tích hàng trăm dữ liệu khắp thế giới, so sánh biến đổi nhiệt độ mùa hè ở châu Á trong thiên niên kỷ trước.

"Nhiệt độ gia tăng tại miền trung, đông và nam Trung Quốc (vào thế kỷ 13), cao hơn đáng kể so với những vùng khác, có thể so sánh với thế kỷ 20", trích báo cáo đăng hôm 5/11 trên tạp chí Biến đổi Khí hậu của nhóm tác giả.

Kinh tế miền trung, đông và nam bộ của Trung Quốc thời kỳ đó rất phát triển, chiếm tới 60% sản lượng GDP toàn cầu. Thời kỳ đó cũng đánh dấu nhiều phát minh quan trọng ra đời, trong đó có thuốc súng và la bàn.

Đế quốc Mông Cổ thành lập năm 1206, tồn tại suốt thế kỷ 13. Thành Cát Tư Hãn (1162-1227) kéo quân chinh phạt nhiều đất nước trên thế giới, tới tận phía tây xa xôi, trong đó có Ba Lan, năm 1259. Tuy nhiên, việc mở rộng về phía nam chậm hơn nhiều. Mặc dù nhiều lần kéo quân đánh chiếm phía nam, nhưng phải mất tới 4 thập kỷ, con cháu của Thành Cát Tư Hãn mới chinh phục được Nam Tống, thống nhất Trung Quốc năm 1279.

Dong Guanghui, giáo sư ngành lịch sử địa chất học ở đại học Lan Châu, người không tham gia nghiên cứu, cho biết xã hội cổ nhạy cảm hơn nhiều đối với biến đổi khí hậu, vì nền kinh tế lúc đó chủ yếu dựa vào nông nghiệp và hoạt động giao thương liên quan tới nông nghiệp. Tuy nhiên, giáo sư Dong cho rằng, không nên phóng đại sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

"Có rất nhiều vùng ấm lên trong lịch sử, tuy nhiên, chỉ có duy nhất một Thành Cát Tư Hãn", Dong nói. "Lịch sử đầy tính ngẫu nhiên. Biến đổi khí hậu không quyết định mọi điều".

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

Câu chuyện về người phụ nữ với ba đời chồng mắc bệnh bụi phổi

Câu chuyện về người phụ nữ với ba đời chồng mắc bệnh bụi phổi là cảm động nhất về cuộc sống con người khi phải sống với trình trạng ô nhiễm môi trường không khí như cách phải xử lý nước thải sinh hoạt cho thật tốt để con người không mắc bệnh ung thư quá nhiều
  • Biến đổi khí hậu ở tây nguyên và các giải pháp thích ứng
Năm 1991, cô gái Guo 20 tuổi kết hôn với Li Guangshan, cùng nhau sống những ngày tháng yên bình và hạnh phúc trong căn nhà nhỏ với hai đứa con. Mong ước một cuộc sống sung túc hơn, Li quyết định rời làng và bắt đầu làm việc tại một mỏ vàng năm 1992.

Ba năm sau đó, cuộc sống của gia đình đã cải thiện hơn nhờ khoản thu nhập 2.000 nhân dân tệ (315 USD) mỗi tháng. Nhiều người dân trong làng đi theo Li và lần đầu tiên cả làng cùng nhau thoát khỏi nạn đói.

Tuy nhiên, vào năm 1995, Li được chẩn đoán bệnh bụi phổi. Ông bắt đầu thấy khó thở và yếu dần đến mức không thể làm việc. Để chữa bệnh, gia đình đã dùng gần như toàn bộ số tiền tiết kiệm.

Tháng 5/1998, Li Guangshan qua đời. Guo cho biết chồng bà là người đầu tiên trong làng làm việc ở mỏ vàng và cũng là người đầu tiên chết vì căn bệnh này.

"Tôi sống với người chồng đầu tiên 7 năm, nhưng ông ấy mắc bệnh một nửa quãng thời gian đó", Guo nói.

Hai năm sau, bà kết hôn với Li Guangxiu, anh trai của người chồng đã qua đời. Guo thừa nhận rằng cuộc hôn nhân này hoàn toàn vì con cái và tin rằng người bác sẽ không đối xử tệ cháu mình.

Không lâu sau, người chồng thứ hai của bà Guo cũng được chuẩn đoán bệnh bụi phổi. Trong 10 năm sau đó, căn bệnh đã ngốn hết toàn bộ tài sản của gia đình, buộc Guo phải vay ngân hàng 80.000 nhân dân tệ (12.608 USD). Bất hạnh liên tiếp ập đến khi cậu con trai 12 tuổi bị chết đuối. Tháng 12/2001, ông Li Quangxiu treo cổ tự tử.

Cái chết của hai người chồng đã phá hủy cuộc sống và dập tắt hy vọng mong manh của người phụ nữ này. Ý nghĩ duy nhất của góa phụ Gio khi đó là nuôi dưỡng đứa con gái trưởng thành, nhưng gia đình đã thuyết phục Guo đi thêm bước nữa khi tuổi già đến gần.


Mùa xuân năm ngoái, Guo kết hôn với người chồng thứ ba Yang Xiaoyi , một người đàn ông đã góa vợ. Nhưng chỉ một tháng sau, Yang được bác sĩ thông báo mắc bệnh bụi phổi. Vì căn bệnh này, ngoài ngồi ghế để trông nhà, ông Yang không thể làm gì khác. Gánh nặng cuộc sống hàng ngày của cả gia đình đè lên vai Guo.

Theo China.org, câu chuyện của Guo là hình ảnh thu nhỏ của làng Mazhuanghe ở tỉnh Thiểm Tây. Năm 2011, cả làng có 13 trường hợp mắc bệnh bụi phổi và chỉ hai người còn sống. Vùng Daping trong làng có 37 hộ gia đình thì có đến 22 nam giới tuổi từ 30-60 bị bệnh này và chỉ có thể chờ chết.

"Chúng tôi có một quan tài sẵn ở trong nhà. Nó dành cho bố hoặc chồng tôi. Người qua đời trước sẽ được chôn cất bằng quan tài đó", Guo nói.

Bệnh nhân mắc bệnh bụi phổi thường do hít bụi từ các mỏ khai thác. Mỏ khai thác với cơ chế quản lý yếu kém của Trung Quốc nổi tiếng là rất nguy hiểm, mỗi năm có đến hàng trăm trường hợp tử vong do nổ, rò rỉ khí hoặc ngập nước.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Biến đổi khí hậu ở tây nguyên và các giải pháp thích ứng

Biến đổi khí hậu ở tây nguyên và các giải pháp thích ứng các hội liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật daklak - áp dụng những đề tài xử lý nước thải đạt chuẩn tốt nhất do công ty môi trường Đoàn Gia Phát thực hiện. Hotline : 0917080011
  • Khả năng xử lý dư lượng kháng sinh trong bùn của cây đước

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề của toàn cầu, là thách thức nghiêm trọng đối với toàn nhân loại hiện nay. Do vậy, việc xã hội loài người thích ứng với biến đổi khí hậu phải được đặt trong mối quan hệ của toàn nhân loại. Tuy nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ là thách thức mà còn tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng phát triển bền vững, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp. Để phát triển kinh tế bền vững phải tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ ảnh hưởng của BĐKH, trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, tránh thiên tai là nhiệm vụ trọng tâm. Trong Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH năm 2013 cho rằng hiện nay các hoạt động con ngƣời đóng góp vào 95 % nguyên nhân gây ra BĐKH, làm nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên nhanh chóng trong hơn nửa thế kỉ qua, chẳng hạn nhƣ việc đốt các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, v.v.) phục vụ các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải,…và thay đổi mục đích sử dụng đất bao gồm thay đổi trong nông nghiệp và nạn phá rừng; ngoài ra còn một số hoạt động khác như đốt sinh khối, sản phẩm sau thu hoạch,…
Cũng theo thông báo thứ 2 của Việt Nam với Công ƣớc khung Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) thì kết quả kiểm kê Khí Nhà kính (KNK) năm 2000 của Việt Nam là khoảng 143 triệu tấn khí CO2/năm. Trong đó nông nghiệp chiếm khoảng 45 %, năng lựợng chiếm khoảng 35 % tổng phát thải KNK của Việt Nam. Điều đó cũng cho thấy Việt Nam là một đất nước có tỉ trọng sản xuất nông nghiệp cao nên khối lượng phát thải KNK chiếm đến 45 %. Sự gia tăng nhiệt độ khí quyển làm cho khí hậu các vùng ở nước ta nóng lên là kịch bản chủ yếu của BĐKH, kết hợp với sự suy giảm lượng mưa làm cho nhiều khu vực khô hạn hơn. Năm 2010, nhiệt độ tăng khoảng 0,3 - 0,50C; và theo các nghiên cứu mới đây nhiệt độ sẽ tăng từ 1,1 - 1,80C vào năm 2100. Những khu vực ở nước ta có nhiệt độ tăng cao nhất là vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1 - 0,3 0C/thập niên.  Tây Nguyên là tên gọi chung của khu vực bao trùm toàn bộ hệ thống cao nguyên rộng lớn nằm ở phía Tây của miền Nam Trung Bộ, trong phạm vi kinh độ 107,41 – 108,39,  vĩ độ 11,32-11,58 và trên độ cao từ 100 mét đến 800 mét so với mực nƣớc biển. Ranh giới tự nhiên gần trùng với năm tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Khí hậu Tây Nguyên nổi lên một số yếu tố riêng biệt, quyết định bởi độ cao và tác dụng chắn gió của dãy Trƣờng
Sơn, hình thành khí hậu đặt trung gọi là khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên; tổng lượng bức xạ mặt trời ở Tây Nguyên khá dồi dào, trung bình đạt 235,240 kcal/cm2/năm khi trời quang mây. Do ảnh hưởng của mây và hơi nước bức xạ mặt trời khi tới mặt đất bị suy giảm, còn khoảng 120-140 kcal/cm2/năm. Tuy nhiên độ chênh lệnh tổng lượng bức xạ của các tháng lớn nhất và tháng nhỏ nhất không nhiều, chỉ khoảng 4-5 kcal/cm2, đây cũng là yếu tố thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và áp dụng các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay. Chế độ nhiệt của Tây Nguyên có quy luật nhiệt độ không khí theo độ cao địa hình: ở những vùng thấp dưới 500 m (Srepok, Krông Pắk) nhiệt độ trung bình 24 oC thì ở những vùng cao 500 – 800 mét nhiệt độ khoảng 21-23 oC, còn ở những vùng cao 800 -1.100 mét (Pleiku) nhiệt độ đã hạ xuống 19 -21 oC và ở những vùng cao trên 1.500 mét (Đà Lạt….) nhiệt độ còn chỉ dưới 19 oC. Lượng mưa ở Tây Nguyên rất không đồng đều theo không gian cũng như thời gian và phân thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 ( trong thời kì này lượng mưa chiếm khoảng 75 % tổng lượng mưa cả năm) và phân bố không điều giữa các vùng : Ở Bắc Tây Nguyên lượng mưa hơn 2.400 mm (Kon Tum), khoảng 2.000 – 2.400 mm;các cao nguyên Gia Lai, Kon Tom, Đắk Lắk ở những địa hình thấp có lượng mƣa 1.600 – 1.800 mm.
Cũng không nằm ngoài sự tác động của BĐKH toàn cầu, các nghiên cứu gần đây cho thấy, so với thập niên 70 - 80 của thế kỉ XX, nhiệt độ không khí trung bình thập niên 90 đến gần đây cao hơn rõ rệt, nhất là vào các tháng mùa mưa (tháng 5 – 10) nhiệt độ trung bình năm phổ biến cao hơn từ  0,5 oC đến 0,8 oC; riêng Kon Tum, cao hơn 1 0C. (Trong khi đó nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng khoảng 0,5 oC đến 0,7 oC); trong các tháng mùa hè, nhiệt độ trung bình phổ biến cao hơn 0,23 oC đến 0,7 oC. Điều này khẳng định sự tăng của nhiệt độ xảy ra ở tất cả các vùng ở Tây Nguyên và nhiệt độ mùa Đông tăng nhanh hơn mùa Hè rõ rệt.  Nhiệt độ tăng cũng là nguyên nhân làm tài nguyên nước suy giảm: Tài nguyên nước mặt (chỉ xét đến lượng nước hiện hữu trên các sông suối điển hình như Sê San, Sê rê pốk, sông Ba và Đồng Nai) đã kiệt dần từ lƣu lƣợng 173.863,54 lít/giây của những năm 2004-2005 xuống còn trên dƣới 127.000 lít/giây hiện nay. Sự phân bổ không đồng đều của lƣợng mƣa theo không gian và thời gian, nơi có lƣợng mƣa hằng năm lớn hơn 3000 mm nhƣ Kon Plong (Kon Tum), thƣợng nguồn sông Hinh (Đắk Lắk) và nơi có lƣợng mƣa chỉ trên dƣới 1.500 mm nhƣ Krông Buk, Ea Súp… thì sự chênh lệch lƣu lƣợng nƣớc ở đỉnh lũ lớn nhất với lƣu lƣợng kiệt nhỏ nhất là rất cao. Mặt khác, những năm gần đây rừng Tây Nguyên bị chặt phá nghiêm trọng, cộng với những yếu tố bất lợi nhƣ mùa khô kéo dài, sự biến đổi thất thƣờng của thời tiết làm cho lũ lụt, hạn hán trở nên trầm trọng hơn. Ngoài ra, Tây Nguyên là nơi thƣợng nguồn của ba hệ thống sông lớn (Sê rê pốk - Sê San nằm ở phía Tây Bắc và sông Đồng Nai ở phía Nam), ngƣời dân tận lực khai thác nƣớc ngầm ngay tại đầu nguồn để tƣới tiêu (cà phê, hoa màu…) khiến mực nƣớc dƣới lòng đất không ngừng bị hạ thấp, dẫn đến quá trình sản xuất tại các vùng hạ lƣu gặp khó khăn. Từ năm 1997, tổng trữ lƣợng nƣớc ngầm (ở trạng thái tĩnh, không có sự tác động bất thƣờng của môi trƣờng tự nhiên) tại Đắk Lắk là 120,9 x 109 m3 đến nay chỉ còn khoảng 30 - 35 %. Sự giàu nghèo tài nguyên nƣớc ở đây phụ thuộc vào lƣợng mƣa, vào thành phần vật chất của lớp phủ bề mặt đất và mức độ lƣu giữ nƣớc của thành tạo địa chất từng vùng. Nếu để suy giảm một hoặc nhiều yếu tố trên sẽ khiến tài nguyên nƣớc nghèo đi. Ngoài lƣợng mƣa hàng năm có xu hƣớng ít đi, do mùa khô kéo dài, thì tình trạng mất rừng và sự thay đổi nhanh chóng của lớp phủ bề mặt trên thành tạo địa chất, mà cụ thể là trên đất (vì mục đích quy họach trồng hoa màu, cây công nghiệp và nhiều dự án nông- lâm nghiệp khác) đã làm cho mực nƣớc ngầm sụt giảm. Mới đây, khảo sát của Đoàn Địa chất 704 cho thấy một số vùng nhƣ ở huyện Krông Pắk, Lắk, Krông Buk và vùng phía Đông Buôn Ma Thuột,… mực nƣớc ngầm tiềm năng không còn nhiều nhƣ 5 năm trƣớc. Ví dụ vùng Krông Pắk, Lắk…năm 2004 có thể khai thác tối đa 0,4 - 0,6 triệu m3/ngày, thì nay còn chƣa đầy 0,4 triệu m3/ngày. Ngoài yếu tố nhiệt độ có xu hƣớng tăng, nguồn nƣớc giảm, dƣờng nhƣ diễn biến thời tiết ở Tây Nguyên đang ngày càng có xu thế cực đoan hơn. Thiên tai xảy ra thƣờng xuyên; lũ lụt, lũ quét vào mùa mƣa; hạn hán, nắng nóng vào mùa khô; các hiện tƣợng thời tiết nguy hiểm khác nhƣ dông, lốc xoáy, mƣa đá xuất hiện ngày càng nhiều và bất thƣờng hơn. Sự gia tăng biên độ nhiệt, độ ẩm ngày đêm, khiến một số nơi đang mất dần tính ôn hòa vốn có của nó. Trong một vài tháng của mùa khô, hiện tƣợng nhiệt độ tăng cao, gây nắng nóng hơn bình thƣờng đã xuất hiện ở một vài nơi. Sự phân bố lƣợng mƣa theo không gian và thời gian cũng có những dấu hiệu thay đổi. Trong đó, đáng lƣu ý nhất là hiện tƣợng mƣa lớn gia tăng khiến lũ quét xuất hiện nhiều hơn. BĐKH cũng đƣợc xem là tác nhân chính làm cho dòng chảy sông suối ở Tây Nguyên mất đi sự hiền hòa vốn có, thể hiện nhiều qua mức độ cạn kiệt nghiêm trọng trong mùa khô, và đỉnh lũ ngày càng nhọn hơn, cao hơn, cƣờng suất lũ lên lớn hơn trong mùa lũ.
Do vậy, để giảm nhẹ sự tác động của BĐKH, thiên tai gây ra. Tây Nguyên cần tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với BĐKH, chủ động phòng, tránh thiên tai là chủ yếu. Cụ thể cần thực hiện một số giải pháp sau: Một là, quản lí bảo vệ nguồn nƣớc: Nƣớc là tài nguyên không thể thiếu trong cuộc sống của con ngƣời, sinh vật, có mối quan hệ hữu cơ với các thành phần kinh tế, đặc biệt không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp. Do vậy, để có cơ sở thích ứng với BĐKH cần phải nghiên cứu, đánh giá sự tác động của BĐKH đến tài nguyên nƣớc phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt; đánh giá công năng và tình trạng hoạt động của công trình thủy lợi lớn và nhỏ, trên cơ sở đó đƣa ra những giải pháp nâng cấp, bổ sung các công trình này để phù hợp với hoàn cảnh của BĐKH; xây dựng các hồ chứa đa mục đích để sử dụng một lƣợng nƣớc nhất định vào nhiều đối tƣợng khác nhau. Tây Nguyên cũng là nơi thƣợng nguồn của ba con sông lớn nên cần có các chiến lƣợc bảo vệ nguồn nƣớc ngay ở thƣợng nguồn; có kế hoạch cân đối nguồn cung và nhu cầu nƣớc theo từng vùng canh tác; trong sinh hoạt cần phải định mức sử dụng nƣớc và giá nƣớc phù hợp với tình hình thực tế của địa phƣơng; nghiên cứu đƣa ra biện pháp kĩ thuật tƣới tiêu cho nông nghiệp nhằm giảm thất thoát nƣớc cũng nhƣ tiết kiệm nƣớc. Hai là, điều chỉnh quy hoạch đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng thời vụ phù hợp với hoàn cảnh  ĐKH: Trong sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp, xây dựng các biện pháp kĩ thuật, tăng cƣờng hệ thống tƣới tiêu và các biện pháp chống chịu với ngoại cảnh khắc nghiệt. Sử dụng các giống kháng, chịu hạn (cà phê, lúa, ngô...), các loại giống ra hoa nhiều lần, bộ giống cây lƣơng thực, thực phẩm ngắn ngày; bố trí thời vụ thích hợp để tránh hạn, tránh lũ. Tăng cƣờng đa dạng sinh học trên vƣờn cà phê nhƣ trồng cây che bóng, cây ăn quả, cây đai rừng sẽ là giải pháp thích ứng với BĐKH hiệu quả do hệ thống cây trồng này có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau trong việc điều hòa vi khí hậu, hạn chế bốc thóat hơi nƣớc trên bề mặt đất và lá, cung cấp hữu cơ, cải tạo đất, hạn chế xói mòn và rửa trôi đất giúp sản xuất cà phê bền vững hơn. Tƣới nƣớc tiết kiệm hợp lí cho cây trồng cũng là giải pháp kĩ thuật nhằm thích ứng với sự BĐKH ở Tây Nguyên. Chuyển một số diện tích đất trồng điều ở các vùng có điều kiện khí hậu bất thuận, sản xuất không hiệu quả sang trồng các loại cây khác có hiệu quả hơn nhƣ sắn, khoai lang, khoai môn là những loại cây có khả năng thích ứng cao với sự BĐKH và từng bƣớc thay đổi khẩu phần lƣơng thực của chúng ta từ gạo là chủ yếu sang một phần các loại củ để giảm áp lực về an ninh lƣơng thực trong tƣơng lai.
Ba là, tiết kiệm n ng lƣợng, khai thác nguồn n ng lƣợng mới: Ở Tây Nguyên, thủy năng đƣợc ƣu tiên phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua nhƣng theo diễn biến của BĐKH hiện nay thì trong tƣơng lai có thể hết khả năng xây dựng thêm các nhà máy thủy điện mới, không ít công trình thủy điện xây lên đã ảnh hƣởng xấu đến các vùng đất canh tác nông nghiệp ở hạ lƣu (Mùa khô thì ngăn dòng chảy, mùa mƣa thì xả nƣớc gây ngập úng, xói mòn đất trồng hoa màu). Trong khi, nhu cầu năng lƣợng để phục vụ cho phát triển kinh tế ngày càng cao, nếu ta không phát triển năng lƣợng khác ngoài thủy năng thì năng lƣợng sẽ thiếu trong tƣơng lai. Do vậy, phát triển các dạng năng lƣợng khác là phƣơng án tối ƣu để thích ứng với kịch bản của BĐKH. Một trong những giải pháp là khai thác các nguồn năng lƣợng tái tạo. Tây Nguyên là vùng có tốc độ gió khả quan nhất Việt Nam; tốc độ gió trung bình trên 2,5m/s khá rộng, nhiều nơi tốc độ gió trên 3m/s, trên các núi cao có thể vƣợt 4m/s – một ƣu thế để phát triển năng lƣợng gió. Năng lƣợng từ mặt trời: trung bình năm ở nƣớc ta có khoảng 1400 - 3000 giờ nắng, trong khi đó khu vực Tây Nguyên trung bình năm khoảng 2000 –2600 giờ nắng với 150 –175 kcal/cm2/năm, đây cũng là nguồn năng lƣợng dồi dào, thân thiện và bền vững. Khai thác tài nguyên mây và làm mƣa nhân tạo cũng có khả thi vào những tháng mùa khô kéo dài phục cho tƣới tiêu. Với những thế mạnh trên vùng Tây Nguyên có thể bổ sung hoặc thay thế thủy năng bằng các dạng năng lƣợng thân thiện với môi trƣờng.  Bên cạnh đó, tiết kiệm năng lƣợng cũng là một giải pháp để giảm sự tác động của BĐKH, thiên tai gây ra: Ở Tây Nguyên, năng lƣợng (điện và xăng dầu) phục vụ cho tƣới tiêu vào mùa khô rất lớn, do vậy, cần đƣa ra các biện pháp kĩ thuật giảm lƣợng nƣớc tƣới trên một diện tích cây trồng cũng nhƣ giảm lƣợng thất thoát nƣớc tƣới nhƣ thay đổi cách tƣới truyền thống bằng phƣơng pháp tƣới nhỏ giọt…
Bốn là bảo vệ và phát triển rừng: Rừng chính là “máy điều hòa khí hậu” khổng lồ. Các nhà khoa học cho biết: Tạm tính trên 1.000.000 ha nếu chỉ 50% diện tích có rừng cây thân gỗ thì mỗi năm rừng ở Trƣờng Sơn giữ đƣợc 22-25 triệu tấn CO2, bởi vậy rừng góp phần đáng kể vào giảm sự nóng lên toàn cầu. Vì vậy, tăng cƣờng trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học ở rừng, đặc biệt là đảm bảo an ninh môi trƣờng sẽ là một chiến lƣợc thích ứng lợi hại của Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng trƣớc ảnh hƣởng BĐKH. Bên cạnh đó cần nâng cao hiệu quả công tác tổ chức phòng chống cháy rừng; nâng cao hiệu suất sử dụng gỗ và cần hạn chế sử dụng nguyên liệu gỗ (điều tra hiện trạng sử dụng gỗ và hiệu suất sử dụng gỗ; nghiên cứu đánh giá cơ chế tài chính khuyến khích sản - xuất vật liệu thay thế gỗ); bảo vệ giống cây trồng quý hiếm, lựa chọn và nhân giống cây trồng thích hợp với vùng Tây Nguyên N m là, chủ động phòng tránh các thiên tai do thiên nhiên gây ra: Ảnh hƣởng của BĐKH gây ra lũ lụt, lũ quét, hạn hán, nắng nóng, dông, lốc xoáy, mƣa đá xuất hiện ngày càng nhiều và bất thƣờng hơn trƣớc. Do vậy phải tăng cƣờng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai; đƣa những kiến thức cơ bản về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai vào chƣơng trình giáo dục trong nhà trƣờng, nhằm giáo dục cho học sinh hiểu và biết cách đối phó với các tình huống thiên tai. Sáu là, nâng cao nhận thức cộng đồng về  ĐKH và thích ứng với  ĐKH: Tăng cƣờng công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức của cán bộ và ngƣời dân về BĐKH và tác hại của nó đối với các hoạt động kinh tế xã hội; về cách thức và phƣơng án giảm nhẹ thiên tai để từ đó thay đổi thái độ, hành vi ứng xử trong hoạt động sống của mình (lao động sản xuất, học tập, sinh hoạt, công tác, sử dụng tài nguyên…).
Biến đổi khí hậu đã có những tác động rõ rệt đến tài nguyên nƣớc trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Đặc biệt là ở các tỉnh Tây Nguyên, vùng sản xuất cây công nghiệp lớn của đất nƣớc, xu thế tăng về nhiệt độ, lƣợng nƣớc tƣới tiêu cho nông nghiệp giảm mạnh, thời tiết cực đoan, thiên tai xảy ra cục bộ với cƣờng xuất mạnh hơn. Hiện nay Việt Nam đã có chƣơng trình Mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu và các tỉnh, thành đã có kế hoạch hành động, đƣa ra giải pháp thích ứng phù hợp với điều kiện địa phƣơng. Trên cơ sở các phƣơng pháp dân gian cải tiến và giải pháp thích ứng, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp chính, phù hợp, góp phần bảo vệ và phòng chống thời tiết cực đoan, phòng hạn, phòng chống suy thoái tài nguyên nƣớc cho khu vực và điều chỉnh cây trồng phù hợp với tình hình hiện nay